Hiển thị các bài đăng có nhãn ô nhiễm môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ô nhiễm môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

6 THÓI QUEN SAU KHI ĂN KHIẾN BẠN CHẾT SỚM

Nếu sau bữa ăn bạn thường có một hoặc nhiều hơn trong số 6 thói quen dưới đây, hãy thay đổi ngay nếu không muốn chết sớm. 

Hát karaoke



Khi vừa mới ăn no dung lượng dạ dày lớn hơn, lưu lượng máu tăng, hát vào lúc này sẽ làm tụt màng ngăn, áp lực phúc mạc gia tăng, nhẹ thì gây khó tiêu, nặng thì gây đau dạ dày và các triệu chứng khác. Vì vậy, tốt nhất để sau khi ăn khoảng 1 tiếng, sau khi thức ăn đã tiêu hóa bình thường hãy đi hát karaoke, hoặc hát trước sau đó mới đi ăn cơm.

Ăn trái cây sau bữa ăn

Không ít người có thói quen ăn trái cây sau khi ăn cơm bởi cho rằng như vậy giúp sạch miệng, bớt cảm giác ngấy. Kỳ thực đây là một thói quen sinh hoạt sai lầm vì ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa. Sau khi thức ăn vào dạ dày, cần 1-2 tiếng mới có thể dần bài trừ, nếu vừa ăn cơm xong đã ăn trái cây ngay sẽ gây đầy bụng bởi số thức ăn trong bữa cơm trước đó chưa tiêu hóa kịp.

Uống trà đặc


Không nên uống trà đặc sau khi ăn.

Theo Health.sina, trong lá trà có chứa lượng lớn axit tannic, uống trà đặc sau khi ăn sẽ khiến khối protein vừa ăn vào chưa được tiêu hóa kết hợp với axit tannic, hình thành chất kết tủa, ảnh hưởng đến việc hấp thụ protein. Các chất có trong lá trà còn cản trở việc hấp thu sắt, thói quen xấu uống trà sau bữa ăn trong thời gian dài, dễ gây thiếu máu do thiếu sắt; ngoài ra, ăn cơm xong uống trà ngay, một lượng lớn nước vào trong dạ dày, sẽ làm loãng dịch vị, từ đó ảnh hưởng công tác tiêu hóa thức ăn của dạ dày.

Hút thuốc

Có người cho rằng: “Một điếu thuốc sau bữa ăn, còn hơn cả thần tiên”. Thực tế, việc này rất nguy hại cho cơ thể. Do sau khi ăn nhu động ruột rất mạnh, tuần hoàn máu cũng tăng nhanh theo, hệ thống tiêu hóa bắt đầu hoạt động toàn diện. Nếu hút thuốc vào lúc này, cường độ hấp thụ khói của phổi và các mô khắp cơ thể tăng mạnh, dẫn tới hấp thu phải lượng lớn các thành phần có hại trong thuốc lá, có tác dụng kích thích rất mạnh đối với hệ hô hấp và tiêu hóa, mang lại tổn thương cho các cơ quan chức năng và các mô trên cơ thể lớn hơn nhiều so với hút thuốc lúc bình thường.

Uống nước

Uống nước ngay sau khi ăn làm loãng dịch vị, khiến thức ăn trong dạ dày chưa kịp tiêu hóa đã vào ruột non, làm suy yếu khả năng tiêu hóa, dễ gây các bệnh đường tiêu hóa. Nếu uống nước có ga thì càng không có lợi cho cơ thể, carbon dioxide do nước ngọt có ga tạo ra dễ làm tăng áp lực trong dạ dày, dẫn tới giãn dạ dày cấp.
Lái xe

Sau bữa ăn do nhu cầu tiêu hóa, máu chủ yếu tập trung về dạ dày, não ở trong trạng thái thiếu máu tạm thời, lái xe lúc này dễ dẫn tới thao tác sai sót, gây tai nạn. Do đó, đợi sau khi ăn 1 tiếng hãy lái xe để đảm bảo an toàn.
Theo nguồn: moitruong.com.vn

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

CÔNG NGHỆ TƯỚI NƯỚC NHỎ GIỌT NHỜ NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

Một người ở tỉnh Bình Phước đã thử nghiệm thành công hệ thống tưới nước nhỏ giọt chạy bằng năng lượng mặt trời không gây ô nhiễm môi trường.
Ông Nguyễn Văn Tất (ngụ ấp 7, xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước) - người đã thử nghiệm thành công hệ thống tưới nước nhỏ giọt chạy bằng năng lượng mặt trời. Mô hình giúp tiết kiệm chi phí, nhân công, phân bón, đồng thời nâng cao năng suất và không gây ô nhiễm môi trường.


Ông Tất bên hệ thống tưới nước nhỏ giọt.

Ông Nguyễn Văn Tất cho biết, công nghệ này bao gồm 1 tấm pin tích hợp năng lượng mặt trời, công suất 175w. Năng lượng từ pin sẽ được dẫn tới một motor. Motor sẽ vận hành hệ thống bơm lấy nước từ dưới mương, ao, giếng, sông hồ… và dẫn nước theo hệ thống ống dẫn nước tới tận gốc cây.

Hệ thống ống dẫn nước từ máy bơm lên đến vườn cây được sử dụng tùy loại ống, nếu sử dụng loại ống nhựa 40mm, khi đến gốc cây được phân thành các nhánh theo hàng cây với loại ống nhỏ 14mm. Tại mỗi gốc sẽ có 2 van xả nước, nhỏ đều từng giọt và chỉnh lượng nước vừa đủ độ ẩm cho cây phát triển.

Ông Tất nói: “Qua hơn 2 năm sử dụng hệ thống này kết quả cho thấy vườn cà phê và điều không còn rụng trái non, bông ca cao không còn bị héo như trước, trái và hạt chắc hơn. Do đó, năng suất vườn cây tăng từ 25 - 30% so với trước. Không những cho tăng năng suất mà còn tiết kiệm chi phí so với chạy máy bơm. Nếu như trước đây bình quân vào mùa khô gia đình tôi phải tưới ít nhất 5 lần/mùa, chi phí hết 8 triệu tiền dầu và 5 triệu tiền nhân công, nhưng nay không tốn một đồng nào”.

Không chỉ tưới nước, hệ thống này còn có chức năng bón phân cho cây rất đồng đều và tiện lợi bằng cách lấy phân hòa lẫn với nước cho tan, liều lượng cân đối với diện tích rồi cho vào bình chứa bơm lên qua hệ thống dẫn nước tới từng gốc cây.

Đây là hệ thống tưới nước tự động, khi có nắng máy sẽ tự động bật, khi hết nắng máy tự động ngắt nên không cần nhân công vận hành máy.

Ngoài hệ thống tưới nước cho vườn cây, gia đình ông Tất còn lắp đặp ống dẫn nước vào bể sử dụng cho sinh hoạt gia đình.

Hệ thống tưới nước nhỏ giọt chạy bằng năng lượng mặt trời của gia đình ông Nguyễn Văn Tất dễ làm, ít tốn kém, do đó mọi người có thể đến học tập về áp dụng ngay ở thời điểm nắng nóng, khô hạn này.
Theo nguồn: moitruong.com.vn

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2015

NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN : LỢI ÍCH VÀ TÁC HẠI


Theo một cách đơn giản, năng lượng hạt nhân được định nghĩa là năng lượng thu được trong một phản ứng hạt nhân. Phản ứng hạt nhân là phản ứng liên hợp (khi hai hạt nhân nguyên tử kết hợp để tạo thành một hạt nhân nặng duy nhất) và phân hạch (khi một hạt nhân nặng duy nhất chia tách thành hai hạt nhân nhỏ hơn) giải phóng một năng lượng rất lớn. Khối lượng hạt nhân được chuyển đổi thành năng lượng.

Năng lượng được giải phóng là kết quả của sự chênh lệch giữa tổng khối lượng của các phần tử tham gia trước và sau khi phản ứng. Quá trình này là một phản ứng dây chuyền và năng lượng được giải phóng cho đến khi các nguyên tử trở nên ổn định.
I. Ưu điểm của năng lượng hạt nhân:

1.1.  Nguồn năng lượng xanh

Ưu điểm lớn nhất của nguồn năng lượng này là không tạo ra các khí thải nhà kính (như carbon dioxide, methane, ozone, chlorofluorocarbon) trong phản ứng hạt nhân. Khí thải nhà kính là một mối đe dọa lớn cho môi trường sống, chúng gây ra sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Phản ứng hạt nhân không tạo ra các khí thải, nên có rất ít ảnh hưởng đến môi trường.
1.2. Tạo ra một số lượng lớn năng lượng

Phản ứng hạt nhân giải phóng nhiều hơn một triệu lần năng lượng so với thủy điện hoặc năng lượng gió. Vì vậy, một lượng điện năng lớn có thể được tạo ra. Hiện nay, có khoảng 10-15% sản lượng điện của thế giới được tạo ra bằng năng lượng hạt nhân. Bạn có biết với một kg uranium-235 có thể sản xuất ra một lượng năng lượng điện tương đương 1.500 tấn than.

1.3. Nhiên liệu độc lập

Lò phản ứng hạt nhân sử dụng uranium làm nhiên liệu. Phản ứng phân hạch của một lượng nhỏ uranium có thể tạo ra một năng lượng lớn. Hiện nay, nguồn dự trữ uranium được tìm thấy trên Trái đất dự kiến sẽ đáp ứng được nhu cầu trong 100 năm nữa. Sử dụng năng lượng này có thể làm cho nhiều quốc gia có thể độc lập về năng lượng và không phụ thuộc vào việc khai thác những nhiên liệu như than đá.

Nếu không có các lỗi của con người hay tai nạn và thiên tai, các lò phản ứng hạt nhân sẽ hoạt động rất hiệu quả trong một thời gian dài. Thêm vào đó, sau khi xây dựng, việc vận hành nhà máy đòi hỏi rất ít lao động.

1.4. Không làm ô nhiễm không khí

Việc đốt nhiên liệu như than đá tạo ra carbon dioxide và khói. Đó là một mối đe dọa đối với môi trường cũng như đời sống con người. Sản xuất năng lượng hạt nhân không thải ra khói. Vì thế, nó không gây ô nhiễm không khí trực tiếp. Tuy nhiên, xử lý chất thải phóng xạ là một vấn đề lớn hiện nay.

II. Nhược điểm của năng lượng hạt nhân

2.1. Không thể tái tạo

Mặc dù chúng tạo ra một lượng lớn năng lượng, các lò phản ứng hạt nhân vẫn phụ thuộc vào uranium. Đây là một nhiên liệu có thể bị cạn kiệt. Sự cạn kiệt của nó lại có thể gây ra một vấn đề nghiêm trọng. Các lò phản ứng sẽ phải ngừng hoạt động, chúng sẽ vẫn chiếm một diện tích lớn đất đai và làm ô nhiễm môi trường.

2.2. Bức xạ
Sự giải phóng ngẫu nhiên các bức xạ có hại là một trong những hạn chế lớn nhất của năng lượng hạt nhân. Quá trình phân hạch giải phóng bức xạ, nhưng chúng được kiểm soát trong một lò phản ứng hạt nhân. Nếu các biện pháp an toàn không được đảm bảo, các bức xạ có thể tiếp xúc với môi trường sẽ dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và con người.

2.3. Phát triển vũ khí hạt nhân

Năng lượng này có thể được sử dụng cho sản xuất và phổ biến vũ khí hạt nhân. Vũ khí hạt nhân sử dụng phản ứng phân hạch, nhiệt hạch, hoặc kết hợp cả hai phản ứng cho các mục đích phá hủy. Đó là một mối đe dọa lớn đối với thế giới vì chúng có thể gây ra một sự tàn phá quy mô lớn. Tác động của chúng có thể ảnh hưởng tới nhiều thế hệ (ví dụ, vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, Nhật Bản).

2.4. Chi phí xây dựng khổng lồ

Tuy một lượng lớn năng lượng có thể được sản xuất từ một nhà máy điện hạt nhân, nhưng nó đòi hỏi chi phí đầu tư lớn. Cần đến khoảng 10-15 năm để xây dựng xong một nhà máy điện hạt nhên. Việc xây dựng một nhà máy điện hạt nhân có thể không khả thi.

2.5. Chất thải hạt nhân

Các chất thải được tạo ra sau phản ứng phân hạch chứa các nguyên tố không ổn định và phóng xạ cao. Nó rất nguy hiểm đối với môi trường cũng như sức khỏe con người và sẽ tồn tại trong một khoảng thời gian dài. Nó cần được xử lý cẩn thận và phải cách biệt với môi trường sống. Độ phóng xạ của các nguyên tố này sẽ giảm trong một thời gian, sau đó phân hủy. Do đó, người ta phải được tích trữ và xử lý một cách cẩn thận. Việc tích trữ các nguyên tố phóng xạ trong một thời gian dài là rất khó khăn.

2.6. Tai nạn nhà máy điện hạt nhân

Cho đến này, đã có hai vụ tai nạn nhà máy điện hạt nhân thảm khốc xảy ra: thảm họa Chernobyl xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl (1986) tại Ukraine, và thảm họa hạt nhân Fukushima Daiichi (2011) tại Nhật Bản. Sau các sự cố, một lượng lớn các bức xạ đã bị phát tán vào môi trường, dẫn đến những thiệt hại về người, thiên nhiên và đất đai. Người ta không thể phủ nhận khả năng lặp lại những thảm họa này trong tương lai.

2.7. Vận chuyển nhiên liệu và chất thải

Việc vận chuyển nhiên liệu uranium và các chất thải phóng xạ là rất khó khăn. Uranium phát ra một số bức xạ, do đó, nó cần phải được xử lý cẩn thận. Chất thải của quá trình sản xuất hạt nhân còn nguy hiểm hơn và cần được bảo vệ tốt hơn. Tất cả các phương tiện vận chuyển chúng đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn quốc tế. Mặc dù chưa có tai nạn hoặc sự cố tràn nào được thống kê, nhưng quá trình vận chuyển vẫn còn là thách thức.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

XỬ LÝ NƯỚC THẢI BẰNG PHƯƠNG PHÁP SINH HỌC HIẾU KHÍ

Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học thực chất là dựa vào khả năng sống và hoạt động của các vi sinh để phân hủy - oxy hóa các chất hữu cơ ở dạng keo và hòa tan có trong nước thải. Phương pháp này thường áp dụng để xử lý các chất hữu cơ hòa tan có trong nước thải cũng như một số chất ô nhiễm vô cơ khác như H2S, sunfit, ammonia, nitơ… 
Phương pháp xử lý sinh học có thể được chia thành 2 loại:

• Xử lý hiếu khí sử dụng nhóm vi sinh vật hiếu khí, hoạt động trong điều kiện cung cấp oxy liên tục. Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hoá sinh hoá. 

• Xử lý kỵ khí sử dụng nhóm vi sinh vật kỵ khí, hoạt động trong điều kiện không cung cấp oxy;

Sau đây sẽ tìm hiểu rõ hơn về xử lý hiếu khí: 

Quá trình xử lý nước thải bằng sinh học hiếu khí gồm ba giai đoạn sau: 

- Oxy hoá các chất hữu cơ: CxHyOz + O2 => CO+ H2O + DH

- Tổng hợp tế bào mới: CxHyOz + NH3 + O2 => CO2 + H2O + DH 

- Phân huỷ nội bào: C5H7NO2 + 5O2 => 5CO2 + 5 H2O + NH3 ± DH
Xử lý sinh học hiếu khí có thể xảy ra ở điều kiện tự nhiên hoặc nhân tạo. Trong các công trình xử lý nhân tạo, người ta tạo điều hiện tối ưu cho quá trình oxy hoá sinh hoá . Vì vậy, nên quá trình xử lý có tốc độ và hiệu suất cao hơn rất nhiều. Tuỳ theo trạng thái tồn tại của vi sinh vật,xử lý sinh học hiếu khí nhân tạo có thể chia thành:

• Xử lý sinh học hiếu khí với vi sinh vật sinh trưởng dạng lơ lửng chủ yếu được sử dụng khử chất hữu cơ chứa carbon như quá trình bùn hoạt tính, hồ làm thoáng, bể phản ứng hoạt động gián đoạn, quá trình lên men phân huỷ hiếu khí. Trong số những quá trình này, quá trình bùn hoạt tính hiếu khí (Aerotank) là quá trình phổ biến nhất. 

• Xử lý sinh học hiếu khí với vi sinh vật sinh trưởng dạng dính bám như quá trình bùn hoạt tính dính bám, bể lọc nhỏ giọt, bể lọc cao tải, đĩa sinh học, bể phản ứng nitrate hoá với màng cố định. 


Bể bùn hoạt tính hiếu khí Aerotank

1. Công nghệ xử lý nước thải bùn hoạt tính hiếu khí (Aerotank)

Trong bể bùn hoạt tính hiếu khí với sinh vật sinh trưởng dạng lơ lửng, quá trình phân huỷ xảy ra khi nước thải tiếp xúc với bùn trong điều kiện sục khí liên tục. Việc sục khí nhằm đảm bảo cung cấp đủ lượng oxy một cách liên tục và duy trì bùn hoạt tính ở trạng thái lơ lửng. 

Bản chất của phương pháp là phân huỷ sinh học hiếu khí với cung cấp ôxy cưỡng bức và mật độ vi sinh vật được duy trì cao (2.000mg/L –5.000mg/L) vì vậy tải trọng phân huỷ hữu cơ cao và cần ít mặt bằng cho hệ thống xử lý. Tuy nhiên hệ thống có nhược điểm là cần nhiều thiết bị và tiêu hao nhiều năng lượng. 

Nồng độ oxy hoà tan trong nước ra khỏi bể lắng đợt 2 không được nhỏ hơn 2 mg/l. Tốc độ sử dụng oxy hoà tan trong bể bùn hoạt tính phụ thuộc vào: 

• Tỷ số giữa lượng thức ăn (CHC có trong nước thải) ø lượng vi sinh vật: tỷ lệ F/M; 
• Nhiệt độ; 
• Tốc độ sinh trưởng và hoạt động sinh lý của vi sinh vật; 
• Nồng độ sản phẩm độc tích tụ trong quá trình trao đổi chất; 
• Lượng các chất cấu tạo tế bào; 
• Hàm lượng oxy hoà tan. 

Để thiết kế và vận hành hệ thống bùn hoạt tính hiếu khí một cách hiệu quả cần phải hiểu rõ vai trò quan trọng của quần thể vi sinh vật. Các vi sinh vật này sẽ phân huỷ các chất hữu cơ có trong nước thải và thu năng lượng để chuyển hoá thành tế bào mới, chỉ một phần chất hữu cơ bị oxy hoá hoàn toàn thành CO2, H2O, NO3-, SO42-, … 

Một cách tổng quát, vi sinh vật tồn tại trong hệ thống bùn hoạt tính bao gồm nhiều loại vi khuẩn khác nhau cùng tồn tại. Yêu cầu chung khi vận hành hệ thống bùn hoạt tính hiếu khí là nước thải được đưa vào hệ thống cần có hàm lượng SS không vượt quá 150 mg/l, hàm lượng sản phẩm dầu mỏ không quá 25mg/l, pH = 6,5 – 8,5, nhiệt độ 6oC< toC< 37oC. 

2. Công nghệ xử lý sinh học dạng mẻ (SBR)



   

Quy trình xử lý nước thải SBR

Bể hoạt động gián đoạn là hệ thống xử lý nước thải với bùn hoạt tính theo kiểu làm đầy và xả cạn. Quá trình xảy ra trong bể SBR tương tự như trong bể bùn hoạt tính hoạt động liên tục chỉ có điều tất cả xảy ra trong cùng một bể và được thực hiện lần lượt theo các bước: (1) – Làm đầy; (2) – Phản ứng; (3) – Lắng; (4) – Xả cặn; (5) – Ngưng.

3. Công nghệ sinh học tăng trưởng dính bám

Bể Bùn Hoạt Tính Với Vi Sinh Vật Sinh Trưởng Dạng Dính Bám: Nguyên lý hoạt động của bể này tương tự như trường hợp vi sinh vật sinh trưởng dạng lơ lửng chỉ khác là vi sinh vật phát triển dính bám trên vật liệu tiếp xúc đặt trong bể.

Do có nhiều ưu điểm vượt trội về hiệu quả xử lý cũng như giảm chi phí đầu tư & vận hành nên hiện nay, việc áp dụng công nghệ sinh học tăng trưởng dính bám đang được ứng dụng khá rộng rãi. Năm 2010, GREE đã phát triển và nâng cấp cải tiến thành công công nghệ dính bám AFBR từ công nghệ FBR. 

4. Công nghệ lọc sinh học (Trickling Filter)

  

Bể lọc sinh học Trickling Filter

Bể lọc sinh học trong xử lý nước thải là một thiết bị phản ứng sinh học trong đó các vi sinh vật sinh trưởng cố định trên lớp vật liệu lọc. Bể lọc hiện đại bao gồm một lớp vật liệu dễ thấm nước với vi sinh vật dính kết trên đó. Nước thải đi qua lớp vật liệu này sẽ thấm hoặc nhỏ giọt trên đó.

Vật liệu lọc thường là đá dăm hoặc hoặc khối vật liệu lọc có hình thù khác nhau. Nếu vật liệu lọc là đá hoặc sỏi thì kích thước hạt dao động trong khoảng 0,5 -2,5 m, trung bình là 1,8 m. Bể lọc với vật liệu là đá dăm thường có dạng tròn. Nước thải được phân phối trên lớp vật liệu lọc nhờ bộ phận phân phối. Bể lọc với vật liệu lọc là chất dẻo có thể có dạng tròn, vuông, hoặc nhiều dạng khác với chiều cao biến đổi từ 4 – 12 m. Ba loại vật liệu bằng chất dẻo thường dùng là (1) vật liệu với dòng chảy thẳng đứng, (2) Vật liệu với dòng chảy ngang, (3) vật liệu đa dạng. 

Chất hữu cơ sẽ bị phân huỷ bởi quần thể vi sinh vật dính kết trên lớp vật liệu lọc. Các chất hữu cơ có trong nước thải sẽ bị hấp phụ vào màng vi sinh vật dày 0,1 – 0,2 mm và bị phân huỷ bởi vi sinh vật hiếu khí. Khi vi sinh vật sinh trưởng và phát triển, bề dày lớp màng tăng lên, do đó, oxy đã bị tiêu thụ trước khi khuếch tán hết chiều dày lớp màng sinh vật. Như vậy, môi trường kị khí được hình thành ngay sát bề mặt vật liệu lọc. 

Khi chiều dày lớp màng tăng lên, quá trình đồng hoá chất hữu cơ xảy ra trước khi chúng tiếp xúc với vi sinh vật gần bề mặt vật liệu lọc. Kết quả là vi sinh vật ở đây bị phân huỷ nội bào, không còn khả năng dính bám lên bề mặt vật liệu lọc và bị rửa trôi. 

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

XỬ LÝ NƯỚC THẢI HIỆU QUẢ BẰNG THỦY SINH THỰC VẬT

Xử lý nước thải bằng tảo

Tảo là nhóm vi sinh vật có khả năng quang hợp, chúng có cấu  ở dạng đơn bào, hoặc đa bào (như các loài rong biển, có chiều dài tới vài mét). Tảo được phân loại dựa trên các loại sản phẩm mà tảo tổng hợp được và chứa trong tế bào của chúng, các loại sắc tố của tảo để phân loại chúng.
Tảo có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh, thích nghi tốt với các thay đổi của môi trường, có khả năng phát triển trong nước thải, có giá trị dinh dưỡng và hàm lượng protein cao, do đó người ta đã phát huy các đặc điểm này của tảo để:
1. Xử lý nước thải và tái sử dụng chất dinh dưỡng. Các hoạt động sinh học trong các ao nuôi tảo lấy đi các chất hữu cơ và dinh dưỡng của nước thải chuyển đổi thành các chất dinh dưỡng trong tế bào tảo qua quá trình quang hợp. Đa số các loại nước thải đô thị, nông nghiệp, phân gia súc đều có thể được xử lý bằng hệ thống ao tảo.
2. Biến năng lượng mặt trời sang năng lượng trong các cơ thể sinh vật. Tảo dùng năng lượng mặt trời để quang hợp tạo nên đường, tinh bột... Chính vì vậy việc sử dụng tảo để xử lý nước thải được coi là một phương pháp hữu hiệu để chuyển đổi năng lượng mặt trời thành năng lượng của cơ thể sống.

Tảo Eulgena
3. Tiêu diệt các mầm bệnh. Thông qua việc xử lý nước thải bằng cách nuôi tảo các mầm bệnh có trong nước thải sẽ bị tiêu diệt do các yếu tố sau đây:
  • Sự thay đổi pH trong ngày của ao tảo do ảnh hưởng của quá trình quang hợp 
  • Các độc tố tiết ra từ tế bào tảo 
  •  Và sự tiếp xúc của các mầm bệnh với bức xạ mặt trời (UV)
Thông thường người ta kết hợp việc xử lý nước thải và sản xuất và thu hoạch tảo để loại bỏ chất hữu cơ trong nước thải.
Các phản ứng diễn ra trong ao tảo chủ yếu là "hoạt động cộng sinh giữa tảo và vi khuẩn".
 Các yếu tố cần thiết cho quá trình xử lý nước thải bằng tảo
Tảo Ceratium
Dưỡng chất: Ammonia là nguồn đạm chính cho tảo tổng hợp nên protein của tế bào thông qua quá trình quang hợp. Phospho, Magnesium và Potassium cũng là các dưỡng chất ảnh hưởng đến sự phát triển của tảo. Tỉ lệ P, Mg và K trong các tế bào tảo là 1,5 : 1 : 0,5.
Độ sâu của ao tảo: độ sâu của ao tảo được lựa chọn trên cơ sở tối ưu hóa khả năng của nguồn sáng trong quá trình tổng hợp của tảo. Theo các cơ sở lý thuyết thì độ sâu tối đa của ao tảo khoảng 4,5 ¸ 5 inches (12,5cm). Nhưng những thí nghiệm trên mô hình cho thấy độ sâu tối ưu nằm trong khoảng 8 ¸ 10 inches (20 ¸ 25cm). Tuy nhiên trong thực tế sản xuất, độ sâu của ao tảo nên lớn hơn 20cm (và nằm trong khoảng 40 ¸ 50 cm) để tạo thời gian lưu tồn chất thải trong ao tảo thích hợp và trừ hao thể tích mất đi do cặn lắng.
Thời gian lưu tồn của nước thải trong ao (HRT): thời gian lưu tồn của nước thải tối ưu là thời gian cần thiết để các chất dinh dưỡng trong nước thải chuyển đổi thành chất dinh dưỡng trong tế bào tảo. Thường thì người ta chọn thời gian lưu tồn của nước thải trong các ao lớn hơn 1,8 ngày và nhỏ hơn 8 ngày.
Tảo Chlamydomonas
Lượng BOD nạp cho ao tảo: lượng BOD nạp cho ao tảo ảnh hưởng đến năng suất tảo vì nếu lượng BOD nạp quá cao môi trường trong ao tảo sẽ trở nên yếm khí ảnh hưởng đến quá trình cộng sinh của tảo và vi khuẩn. Một số thí nghiệm ở Thái Lan cho thấy trong điều kiện nhiệt đới độ sâu của ao tảo là 0,35 m, HRT là 1,5 ngày và lượng BOD nạp là 336 kg/(ha/ngày) là tối ưu cho các ao tảo và năng suất tảo đạt được là 390 kg /(ha/ngày).
Khuấy trộn và hoàn lưu: quá trình khuấy trộn trong các ao tảo rất cần thiết nhằm ngăn không cho các tế bào tảo lắng xuống đáy và tạo điều kiện cho các dinh dưỡng tiếp xúc với tảo thúc đẩy quá trình quang hợp. Trong các ao tảo lớn khuấy trộn còn ngăn được quá trình phân tầng nhiệt độ trong ao tảo và yếm khí ở đáy ao tảo. Nhưng việc khuấy trộn cũng tạo nên bất lợi vì nó làm cho các cặn lắng nổi lên và ngăn cản quá trình khuếch tán ánh sáng vào ao tảo. Moraine và các cộng sự viên (1979) cho rằng tốc độ dòng chảy trong ao tảo chỉ nên ở khoảng 5 cm/s. Hoàn lưu giúp cho ao tảo giữ lại được các tế bào vi khuẩn và tảo còn hoạt động; giúp cho quá trình thông thoáng khí, thúc đẩy nhanh các phản ứng trong ao tảo.
Thu hoạch tảo: tảo có thể được thu hoạch bằng lưới hoặc giấy lược, thu hoạch bằng cách tạo bông cặn hoặc tách nổi, thu hoạch sinh học bằng các loài cá ăn thực vật và động vật không xương sống ăn tảo.
Xử lý nước thải bằng thủy sinh thực vật có kích thước lớn
Tảo Dinobryon
Thủy sinh thực vật là các loài thực vật sinh trưởng trong môi trường nước, nó có thể gây nên một số bất lợi cho con người do việc phát triển nhanh và phân bố rộng của chúng. Tuy nhiên lợi dụng chúng để xử lý nước thải, làm phân compost, thức ăn cho người, gia súc có thể làm giảm thiểu các bất lợi gây ra bởi chúng mà còn thu thêm được lợi nhuận.
Các loại thủy sinh thực vật chính
Thủy thực vật sống chìm: loại thủy thực vật này phát triển dưới mặt nước và chỉ phát triển được ở các nguồn nước có đủ ánh sáng. Chúng gây nên các tác hại như làm tăng độ đục của nguồn nước, ngăn cản sự khuyếch tán của ánh sáng vào nước. Do đó các loài thủy sinh thực vật này không hiệu quả trong việc làm sạch các chất thải.
Thủy thực vật sống trôi nổi: rễ của loại thực vật này không bám vào đất mà lơ lửng trên mặt nước, thân và lá của nó phát triển trên mặt nước. Nó trôi nổi trên mặt nước theo gió và dòng nước. Rễ của chúng tạo điều kiện cho vi khuẩn bám vào để phân hủy các chất thải.
Thủy thực vật sống nổi: loại thủy thực vật này có rễ bám vào đất nhưng thân và lá phát triển trên mặt nước. Loại này thường sống ở những nơi có chế độ thủy triều ổn định.
Một số thủy sinh thực vật tiêu biểu
Loại
Tên thông thường
Tên khoa học
Thuỷ sinh thực vật sống chìm
HydrillaHydrilla verticillata
Water milfoilMyriophyllum spicatum
BlyxaBlyxa aubertii
Thuỷ sinh thực vật sống trôi nổi trôi nổi
Lục bìnhEichhornia crassipes
Bèo tấmWolfia arrhiga
Bèo tai tượngPistia stratiotes
SalviniaSalvinia spp
Thuỷ sinh thực vật sống nổi
CattailsTypha spp
BulrushScirpus spp
SậyPhragmites communis

Nhiệm vụ của thuỷ sinh thực vật trong các hệ thống xử lý
Phần cơ thể
Nhiệm vụ
Rễ và/hoặc thân Là giá bám cho vi khuẩn phát triển
Lọc và hấp thu chất rắn
Thân và /hoặc lá ở mặt nước hoặc phía trên mặt nướcắnHáp thu ánh mặt trời do đóẳngn cản sự phát triển của tảo
làm giảm ảnh hưởng của gió lên bề mặt xử lý
Làm giảm sự trao đổi giữa nước và khí quyển
Chuyển oxy từ lá xuống rể



CON NGƯỜI SẼ SỐNG SAO KHI NGUỒN NƯỚC NGÀY CÀNG Ô NHIỄM ?

Hiện nay nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm, không những ở Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới đang đứng trước nguy cơ thiếu nước sạch trong tương lai. Không những thế biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp,Trái Đất đang dần nóng lên, hãy thử suy nghĩ chúng ta sẽ sống thế nào khi cả nước rơi vào tình trạng khô hạn như miền Trung nhất là Bình Thuận hiện nay, các sông ở Nam Bộ bị xâm mặn, các sông ở đồng bằng sông Hồng và Hà Nội bị ô nhiễm và bồi lắp dần?

Chúng ta sống như thế nào đây khi các nước láng giềng ngăn sông xây đập để giữ nước lại ? Chúng ta sẽ sống thế nào đây khi 12 triệu dân ở ĐBSCL không còn nhà cửa, ruộng vườn, nguồn sống ? Đó là những câu hỏi đặt ra trong ngày nước thế giới năm nay.


Càng ngày, người ta càng lo lắng sẽ đến một ngày mọi tài nguyên trên trái đất đều cạn kiệt và để đề phòng thảm họa đó, người ta bắt đầu tiết kiệm, để dành tài nguyên, tranh thủ dùng các tài nguyên có thể tái tạo được như điện gió, điện mạt trời, dùng lại rác thải, trồng rừng lấy gỗ…

Duy có một tài nguyên là nước thì gần như chưa ai chú ý, nhất là những nước đang phát triển, nắng lắm mưa nhiều, trình độ dân trí thấp. Nước có mặt ở khắp nơi, ngay trong cơ thể ta cũng 70% là nước, trái đất ¾ là nước, ao hồ, sông suối, biển mênh mông nước. Nước còn tự tái tạo, dù bẩn đến đâu, nước bay hơi rồi tụ lại thành mưa, lại có nước sạch. 

Nước nhiều lại có thể tự tái tạo như vậy nên vấn để tiết kiệm nước, từ hàng ngàn đời nay ở nước ta, chưa được đặt ra hoặc có đặt ra thì cũng chỉ là lời cảnh báo xa xôi. 

Chúng ta quen chống lụt, “ nghiêng đồng đổ nước ra sông”, thảng hoặc mới phải “ vắt đất ra nước, thay trời làm mưa.”. Điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của nhiều thế hệ. Nước ta là một trong những nước trên thế giới sử dụng lãng phí nước nhất, tội lãng phí nước gần như chưa bị lên án trong cả luật pháp lẫn đạo đức xã hội.

Nhưng thực tế khắc nghiệt hơn chúng ta tưởng. Việt Nam là một trong những quốc gia khan hiếm nước đang bị xa mạc hóa. Hơn 2/3 nước của các sông, suối là nguồn nguồn từ nước ngoài. Hàng năm, một nửa nước Việt Nam rơi vào nắng nóng, khô hạn suốt 6 tháng. 

Cũng hàng năm, hàng triệu người Việt Nam thiếu nước uống, chưa kể cây trồng và gia súc không có nước. Do thiếu nước, trên 10 triệu héc ta đất của Việt Nam đang bị sa mạc hóa. 

Tầng nước ngầm của Việt Nam, nhất là đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và Tây Nguyên bị ô nhiễm, cạn kiệt dần do giếng bơm, nước tưới cà phê phá hỏng. 

Nước ta hiện có gần 500 hồ chữa thì một nửa trong số đó đang bị sụt lún, nứt vỡ, không chỉ không thể tích nước an toàn mà còn đe dọa tính mạng của con người. Và nguy hiểm hơn, tất cả các dòng sông, nhất là các dòng sông nội địa đều bị ô nhiễm nặng. 

Không còn con sông nào quanh khu vực Hà Nội có thể dùng làm nước sinh hoạt cho người. Nhiều sông, hồ ô nhiễm đến mức cá, tôm và các loại thủy sản không thể sống nổi.

Trong khi đó, người Hà Nội lãng phí nước vào loại nhất nước. Theo một thống kê, trung bình mỗi năm, ngươig Hà Nội cho chảy ra môi trường 40.000 m3 nước sạch do rỏ rỉ, vỡ đường ống, không đóng vòi khi dùng xong (Chỉ cần một người đánh răng không khóa vòi nước khi thao tác, tiêu tốn 20 lít nước). Sự kiện 10 lần vỡ ống đẫn nước của nhà máy nước mặt sông Đà, tốn phí hàng nghìn m3 nước. 

Hậu quả lâu dài của tình trạng lãng phí nước đã khiến người dân Hà Nội không được cung cấp đủ nước, công ty cấp nước luôn lỗ, các sông quanh Hà Nội đều bị ô nhiễm nặng, gần 50 hồ nước đang bị đe dọa biến mất trên bản đồ, mặt bằng Hà Nội đang bị lún dần do khai thác nước ngầm quá mức, nhiều giếng nước nhiễm độc nặng nề.


XỬ LÝ NƯỚC CẤP BẰNG PHƯƠNG PHÁP HẤP PHỤ

Hấp phụ được ứng dụng trong quá trình xử lý nước cấp phổ biến được sử dụng rộng rãi trên thị trường hiện nay. Là quá trình giữ lại có chọn lọc các cậu tử có trong pha khí hay pha lỏng lên bề mặt chất rắn. Bề mặt của chất rắn có khuynh hướng giữ lại các cấu tử trong pha khí và pha lỏng bao quanh nó, đồng thời các cấu tử cần được hấp phụ phải có khả năng liên kết đặc biệt với bề mặt chất rắn.
Các phương pháp hấp phu trong xử lý nước cấp:

1. Hấp phụ vật lý

là do lực tương tác của các cấu tử cần hấp phụ và bề mặt chất rắn lớn hơn lực tương tác giữa các cấu tử với các phân tử trong pha lỏng, tạo nên sự dính bám giữa các cấu tử lên bề mặt ngoài của chất rắn. quá trình này đi kèm với hiện tượng tỏa nhiệt. Quá trình đạt cân bằng khí áp suất riêng phần của các chất bị hấp phụ với áo suất riêng phần của pha lỏng cân bằng nhau. Nếu hạ thấp áp suất hoặc tăng nhiệt độ, chất hấp phụ sẽ bị nhả hấp

2. Hấp phụ hóa học

là kết quả của sự tương tác hóa học giữa chất rắn và chất bị hấp phụ. Nhiệt xảy ra trong quá trình phản ứng là nhiệt hóa học và thường rất lớn.Quá trình hấp phụ không thuận nghịch
Phương pháp hấp phụ được ứng dụng rộng rãi để xử lý nước cấp và loại bỏ các chất hữu cơ hòa tan.

Ưu điểm: 

Là phương pháp hiệu quả cao ( 80 - 95 % ), chất hấp hụ phổ biến nhất là than hoạt tính
Quá trình hấp phụ có thể tiến hành một bậc hoặc nhiều bậc
Hấp phụ 1 bậc được ứng dụng khi chất hấp phụ có giá rẻ hoặc chất thải của sản xuất. Quá trình hấp phụ đa bậc sẽ thu được hiệu quả hơn trong xử lý nước cấp

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

CÔNG NGHỆ MƠI XỬ LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP KHÔNG DÙNG HÓA CHẤT

Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng báo động trên khắp thế giới, từ đó nguồn nước sạch ngày càng khan hiếm vô cùng. Chính vì vậy, các tập đoàn công nghiệp lớn, những công ty chế tạo nguyên liệu đến các nhà máy sản xuất hóa chất đều xây dựng hệ thống xử lý nước thải của mình để tái sử dụng. Điều đó tạo cơ hội cho ngành công nghệ xử lý nước thải ngày càng phát triển, điển hình như công ty Axine Water Technologies của Canada.
Theo tạp chí Forbes, Axine vừa phát triển một phương pháp xử lý nước an toàn do không sử dụng hóa chất, có thể thay thế cho các biện pháp làm sạch nước hiện hành vốn dùng ôzôn, hyđrô peroxít và thuốc tím để trung hòa các hợp chất có hại. Theo đó, hệ thống của Axine sử dụng một lớp màng phủ ôxít kim loại để tạo ra các gốc tự do hydroxyl phản ứng với các chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp. Quá trình ôxy hóa này có thể biến đổi các hợp chất hữu cơ độc hại thành các nhân tố như hyđrô, nitơ và ôxy.


Điều kiện để hệ thống vận hành hiệu quả là cần có nguồn điện và dòng chảy của nước thải phải chậm (dòng nước đi qua hệ thống càng chậm thì mức độ khử sạch các chất độc hại càng cao). Hệ thống đã thu hút sự quan tâm mạnh mẽ từ các công ty khai khoáng, đặc biệt là bộ phận khai thác dầu mỏ và khí đốt vốn tiêu thụ một lượng lớn nước sạch và có tiếng là gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.

Theo Jonathan Rhone, Giám đốc điều hành công ty Axine, các cuộc thử nghiệm cho thấy hệ thống tái chế nước thải mới có thể giúp khách hàng giảm ít nhất 50% chi phí xử lý nước thải so với phương pháp truyền thống. Hiện tại, công ty có rất nhiều khách hàng (chủ yếu là các công ty năng lượng, hãng sản xuất hóa chất và các doanh nghiệp quản lý nước thải) đang xếp hàng để được thử nghiệm hệ thống trong các dự án thí điểm, dự kiến khởi động từ đầu năm tới.
Để hỗ trợ cho viêc phát triển và thử nghiệm hệ thống lọc nước thải thân thiện với môi trường này Axine đã huy động tà trợ vốn lên đến 7,1 triệu USD

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT

HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT - Nước thải sinh hoạt bao gồm nước thải phát sinh từ hoạt động của con người như: Nhà ở ( tắm, giặt...), khu dân cư, khu đô thị, vui chơi, giải trí, văn phòng... 



I. Đặc trưng của nước thải sinh hoạt

Bảng 1: thành phần và nồng độ ô nhiễm của nước thải sinh hoạt
=> Nước thải sinh hoạt chứa nhiều thành phần chất hữu cơ như BOD5, COD, SS, tổng P và N cao và chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh. Vì thế cần phải có một hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tối ưu để xử lý hiệu quả đáp ứng nguồn nước đầu ra
II. QUY TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT

Nước thải sinh hoạt sẽ được thu gom theo hệ thống mương dẫn qua hệ thống giỏ tách rác. Việc bố trí giỏ tách rác nhằm giữ lại những thành phần rác thô, cặn lơ lửng có kích thước tương đối lớn nhằm tránh những ảnh hưởng cho các công trình phía sau. 
Sau khi tách rác, nước thải chảy về bể gom. Bể gom có nhiệm vụ tập trung nước thải đồng thời dầu mỡ cũng được giữ lại tại đây, định kỳ vớt mỡ đem đi xử lý . Từ bể gom nước thải sẽ được bơm qua bể điều hòa. 
Tại bể điều hòa, máy thổi khí sẽ cấp khí và hòa trộn đồng đều không khí trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu, đồng thời có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào. Nước thải sau khi điều hòa sẽ được bơm lên TB sinh học hiếu khí.
Trong TB sinh học hiếu khí, các vi sinh vật hiếu khí sử dụng oxy hòa tan phân hủy và chuyển hóa chất hữu cơ trong nước thải thành sinh khối, CO2 và nước. Các vi sinh vật tập hợp thành tập đoàn, dưới dạng các bông bùn hoạt tính. Nguồn oxy hòa tan được cung cấp từ máy thổi khí thông qua hệ thống ống phân phối khí. Khi nguồn oxy hòa tan được đảm bảo, quá trình oxy hóa sình học các chất ô nhiễm và quá trình nitrat hoá diễn ra triệt để. Kết quả nước được làm sạch và sinh khối vi sinh vật tăng lên.
Sau khi xử lý bằng sinh học hiếu khí, nước thải sẽ chảy qua bể lắng nhằm tách sinh khối vi sinh vật (bùn sinh học) có trong dòng nước thải. Nước thải sẽ được phân phối vào ống lắng trung tâm, bùn sẽ lắng xuống đáy bể, nước trong sẽ chảy tràn bề mặt và theo hệ thống máng thu nước chảy về TB khử trùng. Tại đây, hóa chất khử trùng sẽ được bơm định lượng đưa vào bể nhằm tiêu diệt vi sinh có hại có trong nước thải, đồng thời oxy hóa các chất hữu cơ còn sót lại trong nước.
Nước sau xử lý đảm bảo đạt mức B – QCVN 40:2011/BTNMT sẽ được xả vào môi trường tiếp nhận. Bùn rắn lắng từ TB lắng sinh học sẽ được dẫn về bể phân hủy bùn. Quá trình ổn định bùn kỵ khí diễn ra trong thời gian dài sẽ làm cho bùn ổn định, mất mùi hôi và dễ lắng. Từ bể phân hủy bùn, bùn được tách nước và định kỳ hút đem xử lý. Nước sau khi tách bùn sẽ tuần hoàn trở lại bể gom để tiếp tục xử lý.

CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI NGÀNH SẢN XUẤT SỮA

I. Giới thiệu
Sữa là một loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng như: Protein, glucit, lipit, chất khoáng, vitamin... những chất này rất cần thiết cho hoạt động cơ thể hàng ngày, đặc biệt bổ sung lượng lớn chất dinh dưỡng cho mọi lứa tuổi . Ngày nay chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu dinh dưỡng ngày càng được quan tâm sâu sắc, vì vậy các sản phẩm về sữa được sử dụng ngày càng nhiều và hầu như không thể thiếu ở mọi lứa tuổi. Để đáp ứng nhu cầu của con người các ngành công nghiệp sản xuất sữa trên thế giới cũng như ở Việt Nam ngày càng phát triển và tăng cao về số lượng, chất lượng cũng như về sản lượng.



Nhưng đi cùng với sự phát triển về kinh tế thì ngành công nghiệp chế biến sữa cũng đem lại nhiều lo ngại về vấn đề ô nhiễm môi trường. Vì thực tế nước thải ngành này thải ra với khối lượng rất lớn và chứa hàm lượng hữu cơ hòa tan cao, ít chất lơ lửng, chứa hàm lượng nito và photpho cao gây hiện tượng phú nhưỡng.
Vì thế để ngành công nghiệp sản xuất sữa ngày càng phát triển thì trước hết phải giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường bằng cách lựa chọn công nghệ xử lý nước thải ngành sản xuất sữa phù hợp.

II. đặc trưng nước thải ngành sản xuất sữa

Stt
Thông số
Đơn vị
Giá trị
1
PH
-
6
2
BOD5
mg/l
1200
3
COD
mg/l
2100
4
TSS
mg/l
800
5
NH3
mg/l
25
6
Tổng Nito
mg/l
60
7
Tổng Photpho
mg/l
30
8
Dầu mỡ
mg/l
100
9
Colifom
MPN/100 ml


III. Quy trình công nghệ xử lý nước thải ngành sản xuất sữa


IV. thuyết minh quy trình công nghệ xử lý nước thải ngành sản xuất sữa

Nước thải từ các nguồn trong nhà máy qua hệ thống cống được tập trung tại bể gom nước thải. Trước khi vào hố thu gom có lắp song chắn rác để loại bỏ các tạp chất thô. Tại bể thu gom nước thải có sử dụng một máy bơm để bơm nước thải lên bể điều hòa.
Trong bể đều hòa, ta sử dụng hệ thống làm thoáng bằng khí nén để cấp khí nhằm ổn định chất lượng nước thải trước khi qua bể trung hòa. Đồng thời với việc ổn định chất lượng nước, hệ thống thổi khí tại bể điều hòa giúp tách một phần dầu mỡ và đưa lên bề mặt. 
Sau đó nước được bơm qua bể trung hòa. Tại đây, có sử dụng máy đo pH và máy đo các chỉ tiêu N, P tự động.
Nước thải được đưa qua bể UASB. Bể này có khả năng xử lý BOD và COD cao, có khả năng giảm BOD xuống dưới 500 mg/l. Quá trình hoạt động của bể UASB phải được kiểm tra cẩn thận (tỷ số F/M, hàm lượng N và P) để đảm bảo đầy đủ nguồn dinh dưỡng cho VSV hoạt động. Sau khi ra khỏi bể UASB, nước thải có hàm lượng BOD giảm xuống thích hợp cho quá trình xử lý bằng phương pháp bùn hoạt tính. Khí sinh ra được thu về bình chứa có thể dùng làm khí đốt hoặc chạy máy phát điện Biogas.
Phần bùn ở bể chứa bùn gồm bùn từ bể lắng I, bể UASB và bể Aerotank sẽ được xử lý tại bể nén bùn. Sau khi qua bể nén bùn, bùn được trộn với Polyme để tăng độ kết dính rồi được đưa sang máy ép bùn để tạo thành bánh bùn. Các bánh bùn có thể dùng làm phân vi sinh bón cây.
Nước từ bể UASB chảy sang bể Aerotank. Bể Aerotank có nhiệm vụ xử lý các chất hữu cơ còn lại trong nước thải. Tại bể Aerotank diễn ra quá trình oxi hóa các chất hữu cơ hòa tan và dạng keo trong nước thải dưới sự tham gia của vi sinh vật hiếu khí. Trong bể Aerotank có hệ thống sục khí trên khắp diện tích bể nhằm cung cấp oxi, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật hiếu khí sống, phát triển và phân giải các chất ô nhiễm. Vi sinh vật hiếu khí sẽ tiêu thụ các chất hữu cơ dạng keo và hòa tan có trong nước để sinh trưởng
Khi vi sinh vật phát triển mạnh, sinh khối tăng tạo thành bùn hoạt tính. Hàm lượng bùn hoạt tính nên duy trì ở nồng độ khoảng 2500 – 4000 mg/l; Do đó, một phần bùn lắng tại bể lắng sẽ được bơm tuần hoàn trở lại vào bể Aerotank để đảm bảo nồng độ bùn nhất định trong bể. Nước thải sau xử lý sinh học có mang theo bùn hoạt tính cần phải loại bỏ trước khi đi vào các bể tiếp theo, vì vậy bể lắng có nhiệm vụ lắng và tách bùn hoạt tính ra khỏi nước thải. Nước sạch được thu đều trên bề mặt bể lắng thông qua máng tràn răng cưa.
Nước thải sau bể lắng sẽ tự chảy sang bể trung gian và được bơm qua bể lọc áp lực đa lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh và than hoạt tính, để loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng vết, những chất khó hoặc không phân giải sinh học và halogen hữu cơ. Nước thải sau khi qua bể lọc áp lực sẽ đi qua bể nano dạng khô để loại bỏ lượng SS còn sót lại trong nước thải, đồng thời khử trùng nước thải trước khi nước thải được xả thải vào nguồn tiếp nhận.